Israel - Miền Đất Linh Thánh (III)

| | ...
ISRAEL – MIỀN ĐẤT LINH THÁNH (III)

BETHLEHEM
lu hanh cong giao
Toàn cảnh thi trấn Bethlehem
Thị trấn Bethlehem hiện nay là một trung tâm thương mại, điểm thu hút nhiều khách du lịch, có một khu kỹ nghệ chuyên tạo các vật phẩm lưu niệm mang tính tôn giáo và và truyền thống nổi tiếng, có rất nhiều thánh đường, trường học. Dân số khoảng 50.000 người, thuộc quyền quản lý của chính quyền Palestine.

Thị trấn cách Giêrusalem 8km về hướng Nam. Bethlehem nằm trên một ngọn đồi đá vôi cao trên mặt biển. Bethlehem là một địa danh rất quan trọng vì trong Thánh Kinh đã đề cập tới nhiều lần. Bethlehem là nơi an nghỉ của Rakel vợ Tổ phụ Jacob, được chôn cất trên đường vào Ephrata. Đây cũng là nơi Bà Ruth, bà cố của vua Đavid đã gặp ông Boaz và kết hôn với ông. Bethlehem còn là nơi sinh trưởng của vua Đavid, chính nơi đây ông đã được tiên tri Samuel xức dầu tấn phong làm vua dân Do Thái.

Theo Thánh kinh, vào thời Giacóp, Bethlehem được gọi là Erphrath, nơi chôn cất Rakel (St 35,16,19;48,7). Sau khi chinh phục Canaan, Bethlehem thuộc chi tộc Giuđa. Bethlehem còn gọi là xứ Giuđa, phân biệt với Bethlehem xứ Zabulon (R 1,1). Ông Ibzan làm thủ lãnh bảy năm, khi qua đời được chôn cất tại Bethlehem (Tl 12,8-10); ông Emilech, bố vợ bà Ruth là người Etrát thuộc Bethlehem (R1,1-2), cũng như chồng của bà Ruth, ông Bôaz (2,1,4). Ông Bôaz sinh Ô bét, Ô bét là ông nội của Đavit (R4, 18-22). Đavit được Samuel xức dầu phong vương (1Sm 16,13- 15) và do vậy Bethlehem còn gọi là thành Đavit (Lc 2,4-11). Bethlehem là nơi Đấng Cứu Thế đã hạ sinh (Mt 2,1-7), một thành được xem là nhỏ nhất trong các chi tộc Giuđa (Mk 5,1) sẽ xuất hiện vị cứu tinh dân Israen, vì thế Bethlehem đã xảy ra vụ tàn sát các hài nhi Hêrôđê... (Mt 2,16)

Bethlehem một thành của dân tộc Dơvulun (Gs 19,15). Đối với Do Thái giáo, Bethlehem là quê hương của Đavit, vua Israel trị vì năm 1000 trước CN. Đây cũng là một địa danh linh thiêng của Kitô giáo vì là nơi Chúa sinh ra.

Theo Phúc Âm, Chúa Giêsu sinh ra ở Bethlehem trong một chuồng bò lừa. Theo một cổ truyền mà Thánh Giustinôthế kỷ thứ hai đã nói tới, ấn định nơi đó là một hang đá. Trên hang đá đó Hoàng đế Constantinô đã xây một Vương cung Thánh đường còn tồn tại cho đến ngày nay. Các mục đồng ban đêm canh gác đoàn vật ở cánh đồng chung quanh Bethlehem được Thiên thần báo tin và thấy nhiều Thiên thần hát “Gloria in excelsis Deo”. Họ là những người đầu tiên đã đến thờ lạy Chúa Cứu Thế mới giáng sinh.

Hang Bethlehem

Là một căn hầm nhỏ (12mx3m) nằm dưới cung nguyện của Thánh đường Giáng Sinh. Nền thờ được dát bằng đá cẩm thạch. Các cộng đoàn Kitô giáo vẫn luôn thắp sáng các ngọn đèn dầu, xông hương dâng Chúa Hài Đồng. Một chiếc ngôi sao bằng bạc với dòng chữ : “Nơi đây, Đấng cứu thế đã Giáng Sinh”. Hang Bethlehem có lẽ là nơi bày tỏ sự hiệp nhất của Kitô giáo, người ta vẫn thường chứng kiến các linh mục, tu sĩ của Công giáo và chính thống cùng dâng lễ với nhau.

THÁNH ĐƯỜNG GIÁNG SINH

Một trong những thánh đường cổ xưa theo lưu truyền, Chúa Giêsu giáng sinh trong một hang đá. Thế kỷ thứ hai, thánh Justinô, giáo phụ Originê đều nói đến việc Chúa sinh hạ trong một hang đá. Năm 135, hoàng đế La mã Adrien đã ra lệnh cho dựng tượng thần Adonis tại chỗ để ngăn các cuộc hành hương sùng kính. Nhà thờ đầu tiên được xây dựng trên hang Giáng Sinh vào thế kỉ thứ 4 sau CN do vị hoàng đế La Mã Constantine vào năm 327. Hoàng đế ban hành sắc lệnh Thiên Chúa Giáo là tín ngưỡng hợp pháp trong vương triều La Mã và việc thừa nhận tôn thờ Thiên Chúa.


lu hanh cong giao
Thánh đường Giáng Sinh

Thánh Giêrônimô đã ở Bethlehem từ năm 384-420Vào thế kỷ thứ 6 hoàng đế Justinian cho xây dựng một nhà thờ mới và tinh tế hơn. Những bức tường, cũng như hang động và cửa ra vào được cẩn bằng cẩm thạch với các bức khảm đá mạ vàng. Trong suốt thế kỉ thứ 7 khi người Ba Tư xâm lăng, họ phá hủy tất cả nhà thờ Thiên Chúa Giáo ngoại trừ nhà thờ Giáng Sinh. Có truyền thuyết cho rằng, khi người Ba Tư trông thấy các bức khảm khắc họa 3 nhà thông thái từ Phương Đông đến để bày tỏ lòng tôn kính Chúa Giêsu (Mt 2:2-11).


Vào thế kỉ 11, những hiệp sỹ Thập Tự Quân đã gương cao ngọn cờ của mình trên nóc Thánh Đường. Nhà thờ được tái phục hồi và các khách hành hương đã đổ về đây để bày tỏ tình yêu đối với Chúa. Một hiệp sỹ Thập Tự Quânvua Baldwin I đã xưng vương tại đây vào ngày Giáng Sinh năm 1101.

Sau thời Thập Tự Chinh nhà thờ hứng chịu sự cướp phá và suy tàn. Tuy nhiên như 1 phép mầu, mặc cho tất cả các cuộc xung đột xảy ra trong khu vực nhà thờ vẫn đứng vững. Ngày nay các công trình của nhà thờ vẫn tương tự như thời Justinian, cộng thêm nét tô điểm của thời Thập Tự Chinh. Vài nghệ nhân giỏi nhất vùng đã phối hợp tuyệt vời đã gia công các khảm đá và các họa phẩm càng điể thêm nét tuyệt mỹ cho sàn nhà, cột và các bức tường của kiến trúc hoa mỹ này. Qua nhiều thế kỷ, Bethlehem là nơi đã nảy sinh nhiều cuộc tranh chấp mang tính chất tôn giáo. Thánh đường giáng sinh hiện nay được phân chia làm ba khu vực: Chính thống giáo Hy Lạp; Công Giáo và Chính Thống Armenia. Trên nóc thánh đường, có bốn cây Thánh giá nhỏ nằm sau cây thánh giá lớn biểu trưng cho bốn nước đã tham gia vào đội quân thập tự chinh thời bấy giờ gồm: Pháp, Ý, Đức, Anh.
lu hanh cong giao
Phải lại gần hơn mới thấy cổng vào nhà thờ
lu hanh cong giao
Và phải cúi mình xuống mới vào được
Từ Thánh đường giáng sinh, để vào bên trong, người ta phải khom mình xuống, vì lối vào chỉ cao 1m và rộng 0,8m. Lối vào có tên là “Cổng khiêm cung” vì khi vào ai cũng phải cúi đầu! Nguyên thuỷ, lối vào rất rộng, sở dĩ hẹp như bây giờ là do Thập Tự Quân dựng nên để ngăn ngừa quân Hồi giáo đang tàn phá các di tích Thánh. Về phía Đông của hang là một hốc đá lõm vào, ngay đó là một ngôi sao bạc thật đẹp chỉ rỏ nơi Chúa Giêsu được hạ sinh, ngôi sao gồm 14 cánh và được khắc họa bởi những chữ La Tinh, xin tạm dịch “Tại đây Chúa Giêsu Kitô con của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria đã chào đời”.
 
lu hanh cong giao
Chánh điện bên trong nhà thờ - Trên nền nhà là nơi khai quật...
lu hanh cong giao
Các nhà khảo cổ đã tìm được nền nhà thờ cũ từ năm 327
lu hanh cong giao
Tới gần bàn thờ trong nhà thờ Giáng Sinh
lu hanh cong giao
Bên trái bàn thờ có hình Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng với nến cháy lung linh
lu hanh cong giao
Và khi tắt nến
lu hanh cong giao
Cổng bước vào hang đá Bê Lem
lu hanh cong giao
Hành lang nhỏ dẫn tới hang đá Bê Lem
lu hanh cong giao
Bước xuống các bậc thang là nơi Con Chúa Ra Đời
lu hanh cong giao
Bên phải: nơi Chúa sinh ra – Bên trái: máng cỏ. Máng cỏ nơi Chúa nằm sau khi sinh ra
lu hanh cong giao

lu hanh cong giao
Nơi Chúa Giêsu sinh ra được đánh dấu với ngôi sao 14 cánh
lu hanh cong giao
Các chữ vòng quanh bên trong ngôi sao: Hicde Virgine Maria Jesus Christus Natus Est
Có nghĩa là: Nơi đây Trinh Nữ Maria đã hạ sinh Đức Giêsu Kitô
lu hanh cong giao
Chính diện hang đá Bê Lem
Phía trên ngôi sao là một mảnh còn sót lại của bức khảm đá Mosaic từ thời Thập Tự Chinh khắc họa mầu nhiệm Giáng Sinh. Gần hốc đá tròn là máng thánh. Máng cỏ được đẻo bằng đá và trang trí xung quanh là những dải cẩm thạch. Gần đấy là bệ thờ của 3 nhà thông thái những người đã thấy ngôi sao từ phương Đông và đã đến bày tỏ lòng tôn kính Chúa Giêsu. Mỗi người lần lượt quỳ gối hôn kính tảng đá ngôi sao bằng bạc ghi dấu nơi Chúa sinh xuống trần hơn 2000 năm trước. Nơi đây được gọi là Động Giáng Sinh, nơi đánh dấu một trang tình sử của Thiên Chúa, ghi nhớ một đêm đông giá lạnh, từ trời cao Thiên Chúa xuống thế làm người, giao hòa trời đất. Thật cảm động và chan chứa hồng ân, môi miệng con được hôn dấu tích thánh thiêng nhất lịch sử - nơi Chúa hạ sinh làm người. Kế bên có Động Sữa, nơi tục truyền ngày xưa, sau khi Đức mẹ sinh Chúa Giêsu, bà Êlisabeth bồng Thánh Gioan tẩy giả đến thăm, lúc đó trẻ Giêsu đang bú, thấy trẻ Gioan đến… trẻ Giêsu quay ra mỉm cười chào người anh họ của mình, nên đã làm rơi vài giọt sữa...khiến những phiến đá ở đó biến thành màu trắng ... có nơi sờ vào dính tay như bột phấn … Nơi đây cũng có nhiều kẻ hiếm muộn đến khấn xin có con và đã thành công (có ảnh gởi đến làm chứng).. Vì thế động sữa là nơi chan hoà tình mẫu tử.

lu hanh cong giao
Nhà Nguyện Động Sữa
lu hanh cong giao
Gia đình Thánh Gia trên đường trốn sang Ai cập
lu hanh cong giao
Động Sữa
lu hanh cong giao

Tin mừng Lc 2,1-20 kể lại một câu chuyện tầm thường nhất nhưng cũng là vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Một biến cố tầm thường nhất

Một gia đình nghèo khổ không tìm ra chỗ trọ trong lữ quán. Số người Do thái trở về Giêrusalem để làm sổ khai sinh quá đông. Hai ông bà Giuse - Maria không có tiền để vào khách sạn, vào các nhà nghỉ đắt tiền. Các quán trọ đã hết chỗ. Mùa tăng giá và bắt chẹt khách hàng. Tăng giá để loại trừ người nghèo, ở đó không có chỗ trống cho tình người. Họ đành phải qua đêm ngoài đồng hoang tại Bethlehem trong một hang đá nơi dành riêng cho chiên bò nghỉ ngơi. Đêm đông hôm ấy trong cảnh sương tuyết gió lạnh, Maria đã hạ sinh một con trai, bà đặt con trong máng cỏ, bạn hữu thân nhân chẳng có ai, chỉ có vài mục đồng đến thăm viếng, sự kiện chỉ có thế, thật là đơn giản.

Một biến cố vĩ đại nhất

Thế nhưng em bé ra đời trong cảnh nghèo hèn đó lại là một vị Thiên sai. Người đã cắt đôi dòng lịch sử loài người thành hai phần : trước công nguyên và sau công nguyên, trước và sau ngày giáng sinh của Người. Em bé ấy không phải là một nhà bác học, không phải là một nhạc sĩ mà chính là Thiên Chúa, là Ngôi Lời Vĩnh Cửu của Chúa Cha, Đấng cao sang, quyền năng, Đấng sáng tạo vũ trụ hôm nay đã làm người. Ngài giáng sinh làm người trong thân phận một em bé yếu ớt nằm trong máng cỏ hang lừa chứ không phải trong một cung điện sang trọng lầu son gác tía. Thiên Chúa đã chọn làm một người nghèo sinh ra trong một gia đình nghèo chứ không phải quyền quý giàu sang. Bởi vậy, biến cố giáng sinh bên ngoài xem ra thật tầm thường nhưng lại là một biến cố vĩ đại. Quá vĩ đại đến nỗi nhiều người đã không tin. Ngay trong số những người tin có Thiên Chúa cũng đã có người không dám nghĩ rằng Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Tin vào một Thiên Chúa là Đấng thần linh thì hầu hết các tôn giáo đều tin nhận; nhưng tin vào một Thiên Chúa nhập thể làm người, chấp nhận thân phận con người thì còn rất nhiều tranh luận. Làm sao một Thiên Chúa lại có thể làm những chuyện quá tầm thường như được cưu mang, được sinh ra ? Môt sự kiện táo bạo. Táo bạo đến độ sững sờ sợ hãi,chẳng phải vì khó tin giật gân cho bằng vì không dám tin vào điều vượt tầm quan niệm.Thiên Chúa, Đấng khôn tả của triết học bỗng dưng trở thành diễn tả được.Thiên Chúa,Đấng vô hình của tôn giáo đã chọn cho mình một thể thức xuất hiện hữu hình. Thiên Chúa, Đấng cứu độ trước đây chỉ muốn bày tỏ với con người khốn khổ qua trung gian của các thụ tạo được tuyển chọn,giờ đây lại ngỏ lời trực tiếp với con người qua Hài Nhi bé bỏng nắm trong máng cỏ.Quả là sự kiện táo bạo.

Chính Chúa Giêsu đến thế gian để thực hiện điều đó. Người đến mang sự hoà bình cho nhân loại, tước bỏ khỏi lòng người sự thù hận. Tất cả mọi người là con cùng một Cha, Thiên Chúa nhân lành. Giáo lý quan trọng nhất của Chúa Giêsu là dạy cho mọi người biết Thiên Chúa là người Cha rất yêu thương và tất cả nhân loại là con cái của Ngài và là anh chị em ruột thịt với nhau. Chỉ có giáo lý cao đẹp này, chỉ có Tin mừng này mới giải thoát nhân loại khỏi chiến tranh để xây dựng hoà bình.

Hài nhi nằm trong máng cỏ mời gọi con người:

- Hãy mở rộng vòng tay : Đôi tay Chúa giang rộng như muốn ôm tất cả nhân loại, cử chỉ đó nhắn gửi rằng, hãy mở rộng vòng tay tiếp đón mọi người.

- Hãy mở rộng tầm nhìn : Anh mắt Hài nhi đơn sơ trong sáng như muốn nhắn bảo : Đừng chỉ nhìn hạn hẹp vào bản thân mình, hãy biết mở rộng tầm nhìn ra xã hội, ra giáo hội, ra thế giới. Đừng hạn chế tầm nhìn vào lãnh vực vật chất kinh tế, hãy mở rộng tầm nhìn sang lãnh vực tinh thần tâm linh.

- Hãy mở rộng trái tim : Mở rộng trái tim mình ra để đón Chúa sinh vào, để nghe và hiểu Lời Chúa. Lời Chúa nói thì thầm vào trái tim, Lời ấy nhẹ nhàng sâu thẳm.

Trong những giây phút hồng phúc đó, chúng ta cùng cầu xin cho mọi người trên thế giới được đón nhận giáo lý cao đẹp của Chúa Giêsu. Đó là Tin Mừng cho nhân loại, Tin Mừng dẫn đường soi lối cho nhân loại xây dựng hoà bình trên công lý và tình yêu.

lu hanh cong giao
Các hàng cột bên trong nhà thờ
lu hanh cong giao
Xen kẽ các bình đèn
lu hanh cong giao


lu hanh cong giao
Phía trước Nhà Thờ Giáng Sinh là Quảng Trường Máng Cỏ với đền thờ Hồi giáo.
Bên cạnh là Đại thánh đường thánh Catherine, hiện do dòng Phanxico phụ trách, Do Hoàng đế Justinan xây dựng trên nền của một nhà thờ cổ thời Thập Tự Chinh vào thế kỉ 12. Nhà thờ được xây dựng để cung hiến thánh Catherine – người đã tử vì đạo ở Ai Cập trong thế kỷ thứ 4. Nhà nguyện bên phải của thánh đường cung hiến Chúa Giáng sinh. Bức tượng Chúa Hài Đồng được đặt ngay dưới bệ thờ.
lu hanh cong giao
Từ trong nhà thờ Giáng Sinh phía bên trái có ngỏ thông ra ngoài tiếp giáp với nhà thờ Thánh Catherine.  Trong hình trên, bên trái, nhà thờ Thánh Catherine lợp ngói đỏ.
lu hanh cong giao
Dãy hành lang phía sau tiếp giáp với nhà thờ Giáng Sinh
lu hanh cong giao
Mặt tiền nhà thờ Thánh Catherine
lu hanh cong giao
Mặt tiền và cổng vào nhà thờ
lu hanh cong giao
Bàn thờ - nơi cử hành thánh lễ Giáng Sinh hằng năm
lu hanh cong giao

lu hanh cong giao
Khung hình Giáng Sinh trên cung thánh
lu hanh cong giao
Thánh Giêrôme (c. 347-420) từ năm 385 sống tại Bêlem và đã bỏ ra 20 năm dịch Kinh Thánh từ tiếng Hebrew sang Latin. Trên bàn làm việc của Thánh nhân luôn có sọ người để nhắc nhở rằng con người rồi sẽ phải chết.
Bên dưới thánh đường thánh Catherina là nhà nguyện thánh Giêrônimô (Hieronymus). Thánh Giêrônimô là Đại tiến sĩ của Giáo Hội. Công trình của Ngài là dịch Kinh Thánh sang tiếng La Tinh. Bản dịch của Ngài được gọi là bản Vulgate, hay bản Phổ Thông. Vào thế kỉ thứ 4, Ngài cho xây dựng một tu viện tại Bethlehem và sống ở đây.

Ở hạ tầng nhà thờ là những khung tò vò dưới mặt đất bao gồm:

lu hanh cong giao

Nhà nguyện kính các Thánh Anh Hài (Bấy giờ vua Hêrôđê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bethlehem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cận kẽ các nhà chiêm tinh. (Mt 2:16-18).
lu hanh cong giao

Nhà nguyện Thánh Giuse ( khi các chiêm tinh ra về thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng với ông Giuse rằng: “này ông, dậy và đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập, và cứ ở đó đến khi tôi báo lại vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy. (Mt 2:13-15). 
lu hanh cong giao
Nhà nguyện bên trong hang động dưới nhà thờ Giáng Sinh
lu hanh cong giao
Ngôi mộ Thánh Giêrôme tại nhà thờ Thánh Catherine
Căn phòng của thánh Giêrônimô. Có những tấm bia kính nhớ nơi yên nghỉ của Thánh Giêrônimô và các đồng sự của ngài.

CÁNH ĐỒNG CHIÊN

Gần với Thánh đường Giáng sinh, đó là Cánh Đồng Chiên nơi Thiên thần báo tin cho các mục đồng.

Những di tích tại đây cũng đầy sự thánh thiêng. Cánh Đồng Chiên xưa kia nằm ở phía Đông Bethlehem trong khu vực có nhiều điều kiện thuận lợi về nông nghiệp của miền Giuđê. Khu vực này thật phù hợp để chăn thả gia súc. Những vùng đất nông nghiệp trải dài rộng xa tận đến vùng sa mạc Giuđê và những khu vực không thể trồng cấy nay được dung để thả súc vật.

lu hanh cong giao
Cổng vào khu vực The Shepherd's Fields
Thời Cựu ước, tiên tri Micah đã viết một ngày nào đó Đấng Cứu Độ sẽ xuất hiện từ Bethlehem (Mk 5:1).

Trên những cánh đồng này, thiên thần đã báo cho các mục đồng Đấng Cứu Thế đã sinh ra tại Beelem. Có khá nhiều nhà thờ được xây dựng trên những hang thiêng: Nhà thờ Mục Tử của các Cha dòng Phanxico và nhà thờ Chính Thống Hy Lạp tọa lạc gần ngôi làng Ả Rập Beit Sahur – phía Đông Bê lem, cùng với những nhà thờ cổ và tu viện, các nhà thờ mới tiếp tục khơi gợi sự việc kiện Thiên thần loan báo tin mừng cho các mục tử.

lu hanh cong giao

Các mục đồng chỉ là những người nghèo khó, đơn sơ, mộc mạc, không học cao hiểu rộng, không danh vọng cao sang, không tiền tài vật chất. Thiên Chúa đến ghé thăm, đem ánh sáng cứu độ đến cho họ. Ba Đạo sĩ Đông phương cũng được Chúa gọi, và họ đã mở lòng ra đón nhận Ngài là Cứu Chúa của họ. Ở Palestine, có những toán du mục quanh năm sống với đàn chiên, người ta gọi là “mục tử sa mạc”. Họ sống giữa thiên nhiên, khi đêm về giá lạnh, họ lùa đàn chiên vào những bộng đá, hoặc những chuồng nằm sau bờ làng. Người Do thái không thích những người chăn kiểu đó, họ nói: “Đừng dạy con làm nghề chăn cừu, thợ cạo, lái đò, hàng xén, vì là nghề của phường trộm cướp. Người Pharisiêu không bao giờ mua sữa, mua len của họ, vì sợ phải mua của gian”. Thế nhưng, Chúa sinh hạ làm người, kêu mời họ đến với Ngài.

Đêm hôm ấy là đêm bình an, đêm diễm phúc trước hết là các mục đồng, tức là thành phần nghèo khó trong xã hội, bởi vì Chúa đến để đem niềm an vui đến cho họ. Chính những người chăn chiên nghèo hèn mộc mạc ấy được thiên thần loan báo tin vui: “Hôm nay. Đấng cứu độ đã sinh ra cho anh em.” Khi các Mục Đồng canh giữ đàn chiên ở ngọn đồi Bethlehem, họ bỡ ngỡ vì vẻ đẹp của Thiên Thần: Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, Đấng Cứu thế đã sinh ra cho anh em trong thành của vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa ( Lc 2, 10 – 12 ). Còn các Đạo Sĩ ở bên kia xứ Mađian và Batư nghiên cứu bầu trời đã thấy một ngôi sao chiếu sáng như chiếc đèn của nhà tạm vũ trụ, điện thờ của Thiên Chúa. Họ theo ánh sao tìm đến Hang đá tìm gặp Hài Nhi.
lu hanh cong giao
Nhà thờ Cánh Đồng Chiên
lu hanh cong giao

Các hình vẽ bên trong nhà thờ Mục Đồng trên các bàn thờ phụ

"Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng." (Lc 2, 9)

lu hanh cong giao
"Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ." (Lc 2, 16)
lu hanh cong giao
"Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa" (Lc 2, 20)
lu hanh cong giao
Bàn thờ do Canada tài trợ
Như những cánh bướm bị thu hút bởi ngọn lửa, các Mục Đồng và các Đạo Sĩ tiến đến ngai vàng chỉ là một Hang đá, đến với Thiên Chúa chỉ là một Hài Nhi. Thiên Chúa Hài Nhi ngước nhìn từ Máng cỏ chỉ thấy hai hạng người tìm gặp Ngài và chỉ duy họ tìm gặp Ngài cho đến tận cùng thời gian. Đó là các Mục Đồng và các Đạo Sĩ, những người đơn sơ và những người thông thái.

Các Mục Đồng là những người đơn sơ. Họ chẳng biết gì tới chính trị, văn chương, nghệ thuật. Họ chỉ biết hai điều quan trong là Thiên Chúa ở trên họ và họ ở giữa đoàn chiên. Đêm hôm đó bầu trời rộng mở để loan báo Tin mừng. Thiên Thần cho biết Đấng họ nóng lòng chờ đợi vừa sinh ra trong Hang đá Bethlehem nhỏ bé. Họ đã tìm và gặp Đấng Chăn Chiên của họ.

Qua mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa - Đấng tràn đầy vinh quang thánh thiện sinh ra trong cảnh bần cùng, Đấng là Ánh sáng muôn dân chấp nhận sinh ra trong cảnh tối tăm của hang bò lừa, Đấng là Ngôi Lời sáng tạo hóa thân làm trẻ sơ sinh yếu đuối. Do đó, không lạ gì khi “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà không đón nhận” (Ga 1,11). Và chỉ có những người nghèo hèn và bé nhỏ như các mục đồng mới đón nhận sứ điệp: Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha giấu không cho hạng thông thái biết những điều ấy, mà Cha lại mạc khải cho kẻ bé mọn. Vâng, vì ý Cha là như thế!

Đấng giàu lòng thương xót đã bị lôi cuốn bởi sự nghèo khó, mời nhân loại đến tựa nương bên máng cỏ như phương thế tốt nhất để nên giống Cứu Chúa, nhờ đó mà mỗi người được quyền làm con Thiên Chúa.

lu hanh cong giao

lu hanh cong giao
Cánh Đồng Chiên
Thế giới hôm nay biến chuyển không ngừng và đầy những phức tạp: nhiều triển vọng cho tương lai nhưng cũng đầy những lo âu khắc khoải, yêu chuộng hòa bình nhưng còn quá nhiều chia rẽ, bất đồng, bất công và khủng bố. Dầu có nhiều tôn giáo lớn như Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Ấn độ giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo... nhưng con người vẫn có khuynh hướng mê tín, thích tìm sự lạ, khát khao huyền bí. Thế giới đang không ngừng tục hóa: chối bỏ những giá trị siêu việt để chỉ nhìn nhận những giá trị vật chất, con người sống bằng tính toán lợi nhuận, đánh giá thực tại và đồng loại bằng cân đo đong đếm mà không nghĩ đến phẩm giá con người, hành động dựa trên tự do cá nhân chủ nghĩa mà không quan tâm đến những tiêu chuẩn luân lý đạo đức. Vì thế, thế giới vốn đã nghèo lại càng nghèo thêm, nghèo tình thương, nghèo chân lý, nghèo công bằng, nghèo tự do, nghèo đạo đức, nghèo vật chất đến nỗi người nghèo vẫn hoàn nghèo và có biết bao gia đình phải túng đói cơ cực kiếm sống hằng ngày bên cạnh sự nhởn nhơ hưởng thụ của tầng lớp giàu sang mê say hưởng thụ... Trong một xã hội như thế, sống đạo quả là khó khăn nếu không nói là lạc lõng và thách đố, vì thực tế đi ngược lại vối Tin mừng của Đức Kitô là Tin mừng của sự sống, của tình yêu, của chân lý, công bằng và huynh đệ.

GIÊRICÔ
 
Jericho, cách Jerusalem 24 km về phía Đông, là thành phố lâu đời nhất thế giới có dân cư sinh sống liên tục cách nay 10 ngàn năm.
lu hanh cong giao

lu hanh cong giao
Nằm dưới mực nước biển 260 mét, Jericho là thị trấn thấp nhất thế giới.
lu hanh cong giao
Du khách đến Israel đều đến xem cây vả ông Gia-kêu trèo lên cách nay 2000 năm để được nhìn thấy bóng dáng Chúa Giêsu!
Trên hành trình cuối cùng tới Jerusalem, Chúa Giêsu đi ngang qua thành Giêricô, chúa Giêsu gặp Giakêu, người thu thế chính trong vùng. Người thu thế trèo lên cây để nhìn rõ hơn khi Thiên Chúa đi ngang qua. Chúa Giêsu thấy ông, Người gọi ông xuống và đi về nhà cùng ông. Hôm đó ông đã được Chúa ghé nhà ông ăn cơm tối: "Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi ở lại nhà ông." (Lc 1, 5). Và “ Hôm nay ơn cứu độ đã đến với nhà này”. Sau cuộc gặp gỡ tình cờ với Chúa Giêsu hôm ấy viện trưởng thuế đã quyết định chia một nữa tài sản của mình cho người nghèo và hứa sẽ bồi thường cho tất cả những ai mà ông ta đã lừa gạt. ( Lc 19:1-10).
Có lẽ không có ốc đảo sa mạc nào làm bạn ngạc nhiên hơn ở Giêricô. Các dòng suối thiên nhiên cung cấp nguồn nước cho những cư dân trong vùng hàng nhiều thiên niên kỷ. Ngoài ra, với vị trí nằm ngay trục đường chính dọc theo song Jordan hướng về những dãi núi ở phía Tây khiến thành Giêricô trở thành một trong những thành phố cổ xưa nhất thế giới và cũng là vùng định cư với tuổi đời hơn mười ngàn năm tuổi. Hệ tực vật phủ lên thành phố một màu xanh lục rực rỡ cho cả sa mạc và các vùng lân cận.

Trong Cựu Ước đã đã đề cặp đến thành Giêricô rất nhiều lần. Giêricô là nơi khi xưa Môsê từ trên núi Nebô đã được nhìn thấy đất hứa. Sách Giôsuê chương 6 kể lại cuộc đánh chiếm thành Giêricô. Người Do Thái đã băng qua sông Jordan gần Jêricô để vào Đất Hứa. (Giosua 3:14-16).

Ông Giôsuê lãnh đạo con cái Israel chiếm thành Giêricô thành phố đầu tiên khi họ vượt sông Jordan. Theo chỉ dẫn Thiên Chúa, họ diễu hành xung quanh bức tường thành. Dẫn đầu là hòm bia Thiên Chúa do các thầy tư tế kiệu, trong sáu ngày đầu tuần họ diễu hành mỗi ngày một lần, vào ngày thứ 7 họ diễu hành quanh thành phố bảy lần, các thầy tư thế thổi kèn đồng mọi người la hét và bức tường thành phố sụp đổ xuống… (Giosua 6:12-21).

Suốt thời kỳ Hy Lạp La Mã nhất là dưới thời kỳ Hasmoneans và vua Hêrôđê, thành Giêricô đạt đến đỉnh cao thịnh vượng. Những kỹ sư thời xưa đã dẫn dòng nước từ những con song, dòng suối gần đó tới thành phố đông dân này. Ngày càng nhiều đất đai được sử dụng để làm vườn và đất nông nghiệp. Khí hậu thuận lợi giúp các khu rừng nhỏ của thành Giêricô sản sinh cây chà là chất lượng cao, những cây thuốc và gia vị khác nhau, đặc biệt là cây nhựa thơm. Giêricô trở thành một nơi đáng giá để xây dụng những tòa lâu đài cũng như các dinh thự mùa hè lộng lẫy nhờ vào khí hậu mùa đông không lạnh lắm.

Trong suốt thời kỳ Byzantine, thành Giêricô và vùng lân cận là nơi quan trọng của Thiên Chúa Giáo. Rất nhiều nhà thờ và tu viện được xây dựng xung quanh khu vực, và cả những hội đường Do Thái nữa.

lu hanh cong giao
Có phải chính cây vã này cách nay 2000 năm ông Giakêu đã nhìn thấy Chúa? - Có thể không phải nhưng điều chắc chắn là ông đã nhận được Ơn Cứu Độ theo lời Chúa nói!
lu hanh cong giao
Du khách đến Israel đều đến xem cây vả ông Gia-kêu trèo lên cách nay 2000 năm để được nhìn thấy bóng dáng Chúa Giêsu!
Điều này chứng tỏ cộng đồng người Do Thái đã định cư tại đây. Trong suốt thế kỷ thứ 7 và thứ 8, các tính đồ Hồi Giáo bắt đầu định cư ở thành Giêricô, Những thủ lãnh của dòng họ Umayyad đã cho xây dựng một số những cung điện mùa đông tráng lệ của họ gần thành Giêricô.

Khảo sát thành Jerico, khu gò đất cổ xưa của thành Giêricô cho thấy những tầng sinh địa và sự lưu trú của con người nơi đây đã hơn mười ngàn năm. Các khám phá từ những lớp đất này đã cho thành Giêricô cổ được gọi theo tiếng Ả Rập là “Eines Sultan”. Dòng suối còn được gọi là “Elisa’s Well” gợi nhớ về một phép lạ trong Cựu Ước khi tiên tri Êlia làm ngọt nước của dòng suối bằng cách ném muối xuống đó. (2Vua 2:19-22).

Trong những cung điện mùa đông rộng lớn và ấn tượng từ thời đại của Hasmoneans và Hê rô đê Đại đế, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những tòa tháp, những hội trường lớn, những khu vườn được trang trí, những nhà tắm “Mikveh” của Do Thái Giáo, Những tòa nhà lớn, nhà tắm kiểu La Mã và hồ bơi.
Trong số những hội Đường Do Thái cổ đại có một hội trường với sàn nhà được trang trí khảm đá màu (Mosaic) lộng lẫy từ thời đại Byzantine với một câu khắc chữ Do Thái cổ được đọc là “Shalom AL Y’Israel”“ Hòa bình ở Israel”.

Lâu đài Hisham được xây dựng vào thế kỷ thứ VIII, có cung điện Hồi Giáo và một nhà tắm rộng lớn. Bao gồm những pho tượng, sân trong với những cột bằng đá, những mái vòm và những sàn nhà khảm đá màu sặc sỡ.

NÚI CÁM DỖ
lu hanh cong giao
Jericho còn một địa điểm thu hút khách hành hương nữa: ngọn núi nơi Chúa Giêsu bị Satan cám dỗ với những vinh hoa phú quí thế gian, sau khi ăn chay 40 đêm ngày.
Núi cám dỗ, nằm về phía Tây Bắc vùng Giêricô. Theo Tân Ước, ma quỷ đã ra sức cám dỗ Chúa Giêsu sau khi thánh Gioan làm phép rửa cho Ngài trên dòng sông Jordan. Chúa Giêsu đã đến sa mạc để ăn chay và suy ngẫm về sứ mạng của Ngài. Sau 40 ngày, ma quỷ đến cám dỗ Ngài. Chúa Giêsu đã khước từ những lời cám dỗ ấy. Tương truyền đỉnh núi là nơi ma quỷ đã cho Chúa Giêsu thấy vương quốc của cả thế giới và tất cả những điều đó thuộc về Ngài, nếu Ngài chịu phục tùng.
lu hanh cong giao
Trên sườn núi hiện nay có Tu Viện Cám Dỗ (Monastery of Temptation) thuộc Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp
Trên triền núi có rất nhiều động được các nhà ẩn tu từ thế kỷ thứ 4 sau CN sử dụng. Nhiều năm sau đó khá nhiều tu viện mọc lên gần đấy. Ngày nay trên sườn dốc là tu viện Cám Dỗ (Chính Thống Hy Lạp) hay còn gọi là tu viện Quarantal (Một từ được thu gọn từ “ quarante” tức “40” án chỉ 40 ngày chay). Tu viện rất đặc sắc bởi mặt tiền viện như một nét chấm phá trên bức tranh toàn cảnh hung vĩ của khu hoang mạc. Từ hành lang tu viện, du khách có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang mạc, của thành phố Jericho và thung lũng sông Jordan.

lu hanh cong giao
Nhà thờ Công Giáo
lu hanh cong giao
Bên trong nhà thờ
lu hanh cong giao

lu hanh cong giao

lu hanh cong giao
Nhà hàng Cám Dỗ - một cách "ăn theo" Phúc Âm của ngành du lịch.
lu hanh cong giao

Chúa Giêsu đã vào sa mạc để ăn chay cầu nguyện trong 40 ngày. Thời gian 40 đêm ngày Chúa trải qua trong sa mạc đánh dấu việc khởi đầu một cuộc phiêu lưu, cuộc phiêu lưu của Giao Ước Mới. Cuộc phiêu lưu này tái hiện quãng thời gian 40 năm dân Do thái đã trải qua trong cuộc Xuất hành, đồng thời nhắc lại 40 ngày đêm ông Môsê đã ở trên núi Sinai. Chúa Giêsu đã chiến thắng các cám dỗ của ma quỷ, sau khi ăn chay cầu nguyện trong sa mạc. Có ba cơn cám dỗ là ba biểu tượng mọi cám dỗ qua các thời đại
.
1- Cám dỗ cơm bánh hay vật chất: Trong hoang địa, dân Do thái kêu ca vì thiếu tiện nghi và lương thực. Chúa cho manna để nuôi họ. Nhưng họ nhàm chán thứ bánh họ ăn hằng ngày. Lương thực nói đây tượng trưng nhu cầu vật chất chúng ta muốn hưởng thụ. Trong cơn cám dỗ vật chất, Chúa Giêsu đã trưng lời sách Đệ nhị luật: “ Người ta sống không chỉ bởi bánh, nhưng bởi lời từ miệng Thiên Chúa”. Mặc dù Chúa Giêsu cảm thấy đói, nhưng sự đói khát nghe lời Thiên Chúa còn quan trọng hơn là nhu cầu về cơm bánh. Ngài hơn hẳn dân Do thái xưa, Ngài tìm ý Thiên Chúa hơn là tìm sự thỏa mãn cho riêng Ngài.

2- Cám dỗ về sự thử thánh quyền năng Thiên Chúa: Dân Do thái luôn yêu cầu Chúa ban những dấu lạ điềm thiêng, nhưng Chúa từ chối vì họ không thực tâm tin vào Ngài, mà đơn thuần chỉ để thách thức Chúa. Hôm nay, khi ma quỷ cám dỗ Chúa Giêsu gieo mình xuống khỏi đền thờ, Ngài đã trả lời bằng cách trưng dẫn sách đệ nhị luật: “ Ngươi đừng thử thách Thiên Chúa”. Những gì dân Do Thái khiêu khích Thiên Chúa nơi hoang địa, nơi đây Chúa Giêsu đã chẳng hề làm.

3- Cám dỗ sấp mình thờ lạy ma quỷ: Xưa dân Do thái đã tạc tượng bò vàng và thờ lạy nó. Ngày nay, ngẫu tượng hay bò vàng chính là tiền tài, danh vọng, thú vui, vật chất, tiện nghi, sắc dục đem con người xa lìa Chúa và dẫn đi đến chỗ thỏa hiệp, phạm tội. Chúa Giêsu chẳng màng bất cứ điều gì ma quỷ trưng dẫn, kể cả vương quốc nó muốn dâng tặng Ngài. Ngài đã chẳng cúi đầu thờ lạy nó, trái lại Ngài dõng dạc tuyên bố: “ Ngươi chỉ thờ lạy một mình Thiên Chúa” (Đnl 6,13).

Đường lên núi cám dỗ dốc đá, nên phải có cáp treo để đi lên.

QUMRAN

Nằm trên bờ tây bắc của Biển Chết, là nơi cư ngụ của các ẩn sĩ Esseni, những người ghi chép các bản văn Kinh Thánh rất cổ xưa vô cùng quí giá cho việc học hỏi Kinh Thánh. Tại đây, năm 1947 hai người chăn cừu đã tình cờ khám ra một hang động có những bình chứa các văn kiện quan trọng này. Các nhà khảo cổ đã mua lại được một số văn kiện ghi chép Thánh Kinh. Họ cũng khám phá ra một tu viện đã bị vùi lấp. Những tài liệu quí giá này được lưu trữ và trưng bày tại một bảo tàng viện lớn của Do Thái là Shrine of the Rock.

lu hanh cong giao

lu hanh cong giao

Chúng ta được biết nhiều về nhóm Esseni nhờ các bản chép tay phát hiện được từ năm 1947 tại Qumran. Lịch sử và nhất là gốc tích của họ chưa được làm sáng tỏ. Hình như là vào thời kỳ bị nhà Maccabê bắt bớ, con cháu dòng họ Xađốc đã trốn vào sa mạc. Sau đó một cơn khủng hoảng xảy ra trong nội bộ. Những người khô đạo trở về quê quán, còn những người mộ đạo thì đi tới Qumran, nơi đã có mặt những người đầu tiên bị lưu đày. Ở đây họ sống có tôn ti đẳng cấp. Các tư tế, con cháu Xađốc, chiếm giữ một địa vị then chốt. Nhóm Esseni gắn bó với Luật trong sạch tỉ mỉ hơn cả người Pharisiêu và ở một vài điểm, họ còn bảo thủ hơn cả người Pharisiêu. Họ từ chối không dùng bộ lịch của nhà Xêlơxít mà chỉ dùng bộ lịch cũ. Do đó, họ không mừng lễ Vượt qua cùng một lúc với Do Thái giáo chính tông. Để được trong sạch, họ tắm nhiều lần mỗi ngày và nhất là họ không chịu lên Đền thờ, vì theo họ Đền thờ đã ra ô uế kể từ ngày thay bộ lịch và các tư tế không còn thuộc nhà Xađốc nữa. Họ thích lấy đời sống thánh thiện để thay thế cho các lễ phẩm, đợi cho tới ngày Thiên Chúa tái lập việc phụng tự và trả lại cho Đền thờ sự trong sạch nguyên thuỷ. Những dãy núi đá mầu đỏ xám có nhiều hang. Chính ở nơi đây, mùa xuân năm 1947, hai du mục Mohammad el Dib và Ahmad Mohammad thuộc bộ lạc Ta’Amira đã khám phá trong một hang, bây giờ người ta gọi là I Q, bảy cuốn sách hầu như còn nguyên vẹn. Những cuốn sách đó sau ít tháng đã làm chấn động thế giới Kinh Thánh và Cận đông học. Đó là sách Tiên tri Isaia còn nguyên vẹn (I QIsa), sách chú giải (peser) Habacuc (I QpHab), cuốn Luật (Serek) Cộng đồng (I QS). Những cuốn trên đã do American Schools of Oriental Research xuất bản và do M.Burrows phụ trách; một cuốn Tiên tri Isaia thứ hai (I QIsb), sách những Bài ca (Hôdayot : I QH), cuốn Luật chiến đấu (Milhamah I QM) do Đại học Do thái xuất bản và do E. Sukenik phụ trách, một ngụy thư về Sáng thế ký đã hư hại nhiều cũng do Viện Đại học Do thái xuất bản năm 1956. Sau một thời gian tản mát đó đây, bây giờ các cuốn nói trên đều được giữ tại Viện Đại học Do thái ở Giêrusalem.

lu hanh cong giao

lu hanh cong giao

lu hanh cong giao

Năm 1949, các nhà cổ học đại diện Bộ Khảo cổ Jordania, trường Kinh Thánh các cha Đaminh Pháp và Bảo tàng viện Palestina bắt đầu cuộc tìm kiếm. Cuộc tìm kiếm đó kéo dài tới năm 1956 và thu được nhiều mảnh cảo bản trong 11 hang khác nhau, nhất là trong hang IV. Các nhà khảo cổ đó cũng khai quật hoang tàn Qumran. Cuộc khai quật này cho ta biết Khirbet Qumran đã là trụ sở của một cộng đồng đông đảo vào thời Hasmônêô (135 - 37 trước Công nguyên) (tiền đúc của Alexandrô Jannêô 103 - 76 trước Công nguyên) và từ năm 4 đến năm 68 sau Công nguyên.

Người ta chỉ mới xuất bản những mảnh cảo bản của hang I : D. Barthelemy - T.J. Milik, Qumran Cave I, Oxford 1955 ; những mảnh cảo bản ở các hang khác mới được nói tới trên tạp chí đó đây. Chúng ta còn phải đợi một thời gian nữa mới được biết tất cả các tài liệu và có thể những du mục còn giữ một số tài liệu quí báu. Họ đã đòi một số tiền khổng lồ để bán các tài liệu mà họ đã lấy được; bây giờ có lẽ họ còn đợi cho lên giá (mỗi phân vuông một Bảng Anh). Dầu sao tất cả các mảnh cảo bản đã tìm thấy, cả các mảnh cảo bản mà những tổ chức khoa học đã bỏ tiền ra mua đều được giữ tại Viện Bảo tàng Jordania và do một nhóm học giả thuộc nhiều quốc tịch và tôn giáo khác nhau khảo sát. Trong những cuộc tìm kiếm văn kiện Qumran, người ta đã khám phá ra hai kho cảo bản khác : ở Murabbaat và ở Khirbet Mird. Nhưng những tài liệu này không liên quan tới vấn đề của chúng ta. Trái lại phải kể vào loại văn kiện Qumran, tài liệu Damas (CD) do S. Schlechter tìm thấy năm 1896 - 1897 trong một hội đường Do-thái ở Le Caire (Ai-cập) và do ông xuất bản : Fragment of a Zadokite Work, Cambridge 1910. Tài liệu này đã là một bí nhiệm cho đến khi người ta khám phá ra những mảnh cảo bản ở hang IV, V và VI Qumran. Những mảnh cảo bản này cho ta biết chắc tài liệu trên là của các ẩn sĩ Qumran.

BIỂN CHẾT

Rời Qumran trong gió lộng và nắng chiều vàng nhạt chúng tôi đi Biển Chết. Qua nhiều cánh đồng chà là bạt ngàn, tôi nhớ đến những vườn dừa ven biển Phan thiết, những rừng cao su ngút ngàn ở Đồng nai. Biển Chết nằm trong vùng sa mạc của miền Giuđêa, miền nam Israel, mặt nước có diện tích khoảng 1.020km2, chỗ sâu nhất là 385m. Mặt nước của biển thấp nhất trái đất. Nơi đây không có một sinh vật nào có thể sống nổi vì quá mặn, 33% độ mặn so với các biển khác chỉ có 3%, mặn đến độ có thể nằm đọc báo trên biển. Hằng ngày nước sông Jordan và những dòng sông khác đổ vào đây khoảng 7 triệu tấn nước mang theo một khối lượng khoáng chất đáng kể.

lu hanh cong giao


lu hanh cong giao

Đến biển chết ai cũng thích tắm và trét bùn lên người. Bùn Biển Chết chữa bệnh được đóng gói bày bán tại nhiều cửa hàng. Tắm ở đây không được để nước vào mắt vào miệng, chỉ cần tắm 10 phút là đủ rát bỏng người. Khách hành hương quá đông, đủ mọi màu da sắc tộc. Người ta bảo rằng đi khắp thế giới mà chưa bồng bềnh trên Biển Chết thì chưa đủ. Trở về Giêrusalem, mỗi người mang theo muối mặn chát trên khắp cơ thể.

BÊTANIA

Một làng nằm ở phía đông nam núi Cây Dầu, thuộc vùng phụ cận Giêrusalem (Mc 11,1), trên đường nối liền với Giêricô. Nơi ở của Lazarô, Mátta và Maria (Ga 11,1). Là nơi Chúa cho Lazarô sống lại (Ga 11). Bêtania bây giờ là: El-Azariyeh, “Nhà của Lazarô”. Nhìn từ xa, làng Bêtania được mô tả như là “ nơi tốt đẹp đáng ghi nhớ, nơi ẩn nấu của sự bình yên, của nguồn yêu thương”. Bây giờ cũng chỉ là một làng nhỏ. Dân số hiện nay khoảng 5.000 người. Bêtania ngày nay là vùng đất tự do, chẳng thuộc quản lý của Israel hay của Palestine. Từ Giêrusalem về Bêtania xe hơi chạy khoảng 1 giờ vì phải rẽ nhiều ngã quanh thành phố.

Ngôi mộ Lazarô đục sâu vào đá, mấy chục bước tam cấp đi xuống, ánh sáng mờ ảo hắt lên những phiến đá lạnh lẽo nhập nhoà lung linh nơi Lazarô đã an nghỉ 4 ngày; thăm căn nhà 3 chị em Matta, Maria và Lazarô ở, viếng nhà thờ dâng kính cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Matta trước khi Chúa làm phép lạ cho Lazarô sống lại.

Đứng trước mộ Lazarô, tôi nhớ đến đoạn Tin Mừng Ga 11,1-45.

Matta và Maria sai người đến báo tin cho Chúa Giêsu hay:

- Lazarô, người Thầy thương mến đang đau nặng.

Chúa bảo: Bệnh này không đến nổi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang Thiên Chúa. Cho dù Lazarô đã chết nhưng Chúa Giêsu vẫn nói với các môn đệ:

- Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó để anh em tin.

Chúa Giêsu và các môn đệ lên đường tới Bêtania. Matta đón Ngài và biểu lộ niềm tin tưởng tuyệt đối của mình:

- Lạy Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Nhưng bây giờ con biết: bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.

Lazarô đã chết nhưng Matta tin tưởng chắc chắn Ngài có thể làm cho em trai mình được sống bởi vì Ngài là Đấng quyền năng. Chúa Giêsu đã trả lời cho Matta:

- Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ sống, và bất kỳ ai sống và tin Ta thì sẽ không phải chết bao giờ.

Với lời xác quyết vừa trang trọng, lại vừa lạ lùng này, Chúa Giêsu đòi hỏi Matta phải xác tín:

- Con có tin điều đó không?

Và Matta đã tuyên xưng:

- Lạy Thầy con tin, Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa, là Đấng phải đến trong thế gian. Matta biết Chúa Giêsu là Đấng quyền năng, Ngài có thể truyền lệnh cho sự chết cũng như Ngài đã truyền lệnh cho sóng gió phải im lặng. Và Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ, Ngài truyền cho Lazarô sống lại bước ra khỏi mồ, sau khi đã cầu nguyện và cảm tạ Chúa Cha.

Trước sự thật hiển nhiên này, một số người đã tin theo Chúa, thế nhưng một số người khác, nhất là các Biệt phái và các Thượng tế lại chống đối Ngài một cách quyết liệt hơn nữa. Họ hội họp với nhau và nhất trí kết án tử hình cho Chúa.

“Ta là sự sống lại và sự sống ”, lời tuyên bố của Chúa Giêsu trước khi làm cho Lazarô sống lại, là một trong những lời “lạ tai” nhất đối với người thời đại cũng như bao người ngoài Kitô Giáo và những người vô thần ngày nay. Nhưng đối với chúng ta, lời tuyên bố đó là chính nền tảng, và là hy vọng của cuộc đời.

Là Kitô hữu, chúng ta tin có tội lỗi, tin vào thánh giá, tin có sự đau khổ và sự chết, tin vào ơn tha thứ, tin vào niềm vui, vào sự giải thoát, tin vào sự sống và sự sống lại. Chính vì thế mà tất cả những lời chứa đựng trong Kinh thánh Tân ước được gọi là Tin mừng, Evangélion. Đó là Tin mừng cứu sống mà Chúa Kitô chính là nội dung; nói khác đi, chính Ngài là Tin mừng cứu sống (x.Mc 1,1). Thánh Phaolô thường gọi những lời thuyết giáo của Chúa là “Tin mừng Chúa Kitô” (x.1Tx 3,2; 1Cr 2,12; 4,4; 8,13; 10,14; Pl 1,27; Rm 15,19). Và chúng ta có thể tìm thấy trong thư gởi giáo dân thành Côrintô một toát yếu về Tin mừng ấy như sau: “ Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cũng như đang nắm vững. Nhờ Tin mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích. Trước hết, tôi đã trình bày lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ 3 đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với nhóm 12. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn 500 anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các tông đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non .” (1Cr 15,1-8)

Chúng ta còn có thể tìm được những câu toát lược hơn nữa về Tin mừng Chúa Kitô, nhưng trong đó bao giờ cũng nêu lên hai điểm chính yếu: Chúa Kitô đã chết và Ngài đã sống lại (x.1Tx 4,14; 2 Cr 13,4; Rm 4,24-25; 8,34; 14,9).

Tin Mừng Cứu Sống chính là Chúa Kitô đã chết và đã sống lại. Chết và sống lại đó là hai sự kiện căn bản không thể tách rời. Không thể có sống lại nếu không chết, trái lại, nếu Chúa Kitô chết mà không sống lại thì nói như Thánh Phaolô “ đức tin của chúng ta chỉ là trống rỗng” (1Cr 15,14), nghĩa là vô giá trị, giả dối.

Hai sự kiện trên vì bất khả phân như thế nên thánh Gioan đã liên kết lại trong cái mà Van den BUSSCHE gọi là “biến cố bất khả phân”, biến cố đó là biến cố cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trên thánh giá mà thánh Gioan coi như là chính sự “Thăng Thượng” (Elevatio) của Chúa Kitô (Ga 8,28; 12,32); nói khác đi là chính giờ phút vinh quang của Ngài (Ga 13,31).

Hai sự kiện, chết và sống lại đều cùng một mầu nhiệm Chúa Kitô. Lễ Vượt qua mới, hay là biến cố giải thoát, là môt biến cố bất khả phân. Tuy nhiên trong thực tế, biến cố này, tuy là một biến cố duy nhất nhưng rõ rệt phân làm hai đoạn chính: đó là chiều thứ 6 thụ khổ và sáng Chúa nhật Phục sinh. Vì thế, sự chết và sống lại của Chúa Giêsu là hai giai đoạn của cùng một biến cố Cứu độ duy nhất.

NHÀ THỜ THĂM VIẾNG – EIN KEREM

Ẩn mình giữa những ngọn đồi bao quanh Giêrusalem, Ein Kerem hiện đại là một vùng lân cận xinh đẹp của Giêrusalem được chúc phúc với bầu không khí đồng quê du mục. Ở trung tâm làng là cái giếng, theo tương truyền, nơi đó Đức Maria gặp bà Êlisabeth. Các ngôi nhà trong làng được xây bằng đá rải rác giữa các căn nhà là những gác chuông Nhà thờ làm tăng vẻ đẹp vùng trời Ein Kerem.

lu hanh cong giao
Nhà thờ Thăm Viếng
Có một số cộng đoàn Tu sĩ ở trong làng Ein Kerem hiện đại, đó là Tu viện Thánh Gioan Tẩy Giả, Nhà thờ Chính thống giáo Liên xô (Russian Orthodox Church) và Dòng Đức Bà Sion với những nhà trọ rất đẹp. Ngôi Nhà thờ này nằm ở con đường phía trên Nhà thờ Thăm Viếng, có những mái vòm hình củ hành mạ vàng giống như Nhà thờ Maria Magdala của Liên Xô ở Cổ thành Giêrusalem.


lu hanh cong giao

lu hanh cong giao

lu hanh cong giao
Bài Linh hồn tôi tiếng Việt - Magnificat in Vietnamese
lu hanh cong giao
Kinh Magnificat bằng các thứ tiếng khác
lu hanh cong giao
Kinh Magnificat bằng các thứ tiếng khác
lu hanh cong giao
Trong khuôn viên nhà thờ - On premise
lu hanh cong giao

lu hanh cong giao

lu hanh cong giao

lu hanh cong giao

lu hanh cong giao
Cửa nhà thờ: Linh hồn tôi tung hô Chúa - Church's door: Magnificat Anima Mea Dominum
lu hanh cong giao
Cửa nhà thờ: Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ - Church's door: Benedicta tu in mulieribus
lu hanh cong giao
Giếng nước: Nơi được tin là Bà Thánh Isave ra chào Đức Mẹ
Chúng tôi thăm Nhà thờ Thánh Gioan Tẩy Giả. Đây là Nhà thờ của các cha dòng Phanxicô được xây dựng trên điểm linh thánh, nơi thánh Gioan Tẩy Giả ra đời.
Sân trong Nhà thờ trưng bày những bảng ghi chép bằng nhiều thứ tiếng lời tiên tri của ông Giacaria. Ông đã thốt ra lời tiên tri này vào ngày lễ cắt bì cho con trẻ và đặt tên cho con mình là Gioan (Lc 1, 67-79); theo truyền thống Giáo hội đây là lời kinh “Benedictus”.
lu hanh cong giao
Nhà thờ Thánh Gioan Tẩy Giả
lu hanh cong giao
Nơi hạ sinh Thánh Gioan Tẩy Giả
lu hanh cong giao

lu hanh cong giao
Giếng nước đầu làng
Đi lên ngọn đồi với nhiều bậc cấp, đó là Nhà thờ Thăm viếng. Đây là Nhà thờ của các cha dòng Phanxicô tôn kính dịp Đức Maria viếng thăm gia đình bà Êlisabeth.
Một bức tranh khảm đá (mosaic) tuyệt đẹp diễn tả việc Đức Maria vào ngày rời Nazarét đến Giêrusalem đã tô điểm phần bên ngoài Nhà thờ.

Những bảng ở sân trong Nhà thờ ghi lại lời kinh Magnificat của Đức Maria bằng nhiều thứ tiếng (Lc 1, 46-55).

Tin mừng ngày Lễ Thăm Viếng cho thấy chân dung của hai người mẹ diễm phúc nhất trần gian: Đức Maria, Mẹ Đấng Cứu Thế và Êlisabeth, mẹ Gioan Tiền Hô.
Một cuộc gặp gỡ chan chứa niềm vui, diễn ra trong bầu khí của Thánh Thần. Thánh Thần tác động trên Maria. Thánh Thần tràn đầy bà Êlisabeth. Thánh Thần đã hoạt động nơi thai nhi Gioan (Lc 1,15). Đó là một Lễ Ngũ Tuần đầu tiên mà bà Êlisabeth nói dưới tác động của Thánh Thần. Đức Maria đã tiếp đón một cách đơn sơ sự hiện diện của Thiên Chúa trong chính cung lòng Mẹ. Cuộc gặp gỡ ngoại hạng này cũng như sáng ngày Phục Sinh, bí mật này của Thiên Chúa được giao phó cho phụ nữ trong niềm hân hoan vui sướng chỉ có thể đến từ Chúa Thánh Thần.

Thánh Luca thích nói rằng Thánh Thần sẽ “được đổ tràn đầy trên mọi xác thịt”, khi trích dẫn những lời của tiên tri Gioel. Bà Êlisabeth trở thành nữ tiên tri. Bà kêu lên, bằng giọng của lời tung hô phụng vụ : “Maria, em thật có phúc giữa tất cả phụ nữ và hoa trái lòng em được chúc phúc”.

Suy niệm về cuộc gặp gỡ kỳ diệu của hai bà mẹ cho chúng ta những bài học bổ ích. Đức Maria đã đi thăm người chị họ Êlisabeth. Dù đường sá xa xôi, vất vả, qua miền đồi núi, Đức Maria vẫn lên đường viếng thăm vì yêu thương. Chính tình thương đã thúc đẩy bước chân Mẹ. “Đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo Tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52,7). Như thế, hình ảnh Đức Maria đang cưu mang Đấng Cứu Thế, băng ngàn để loan báo tin vui cũng chính là hình ảnh Isaia đã loan báo.

Cuộc viếng thăm là sự gặp gỡ giữa hai người mẹ, hai người con đang được cưu mang và giữa hai giao ước cũ và mới.

• Giữa hai người mẹ: Đức Maria thăm viếng là đem niềm vui có Chúa cho gia đình người chị họ. Ở lại phục vụ người chị trong thời gian mang thai sinh con. Êlisabeth được ơn Thánh Thần đã xưng tụng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa và đã ca tụng đức tin của Đức Mẹ.

• Giữa hai người con: Nghe lời chào của người mẹ cưu mang Đấng Cứu Thế, con trẻ Gioan trong lòng mẹ Êlisabeth nhảy mừng vui sướng.

• Giữa hai giao ước: Cuộc viếng thăm của Đức Mẹ là cuộc gặp gỡ giữa hai giao ước. Thời đại mới mở ra giao ước mới. Con Thiên Chúa làm người khai mở giao ước của thời đại ân sủng và tình yêu.

Cuộc viếng thăm của Đức Maria là cuộc viếng thăm của tình yêu.Tình yêu đòi hỏi phải biểu lộ ra chứ không giữ kín bên trong. Một tình yêu giữ kín, không được biểu lộ thành hành động không phải là một tình yêu đích thực. Tình yêu phải được biểu lộ ra thành sự quan tâm, chăm sóc, năng tìm cách gặp gỡ, giúp đỡ, hy sinh cho người thân, làm cho người thân trở nên tốt đẹp, hạnh phúc hơn.Tình yêu đích thực đòi hỏi phải năng gặp nhau, nhất là những lúc người mình yêu có chuyện vui buồn. Đức Phật nói: “Yêu nhau mà không được ở gần nhau, mà phải xa cách nhau thì sẽ đau khổ”. Ngài gọi cái khổ ấy là “ái biệt ly khổ”. Tục ngữ có câu: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề!” (một ngày không gặp nhau thì dài như ba năm). Do đó, đi thăm viếng nhau là đòi hỏi của tình yêu đích thực, là biểu lộ sự quan tâm đến nhau.

Khi đến thăm bà Êlisabeth, Mẹ đem Chúa đến cho người thân của mình. Nhờ Mẹ mang Chúa đến nên không chỉ bà Êlisabeth vui mừng mà hài nhi trong lòng bà cũng vui theo mà “nhảy lên” hân hoan. Nhảy mừng diễn tả niềm vui. Đây là niềm vui ơn cứu độ. Sự hiện diện của Đức Maria mang đến niềm vui và còn có sự biến đổi khiến hai mẹ con bà Êlisabeth được tràn đầy Thánh Thần, và nhờ đó nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Mẹ. Gia đình Bà Êlisabeth là gia đình đầu tiên được Chúa Cứu Thế viếng thăm. Đây là gia đình diễm phúc đón nhận niềm vui ơn cứu độ.

Đến thăm nhau không chỉ là một phương cách biểu lộ tình yêu, nói lên sự quan tâm, mà còn là một dịp thuận lợi để đem Chúa đến cho người mình thăm viếng. Nhờ ta đem Chúa đến, niềm vui của người được thăm tăng lên gấp bội, họ nhận lãnh được Thánh Thần nhờ sự hiện diện của Chúa do ta mang đến. Chính Thánh Thần của Chúa trong ta sẽ thánh hóa, biến đổi họ nên tốt lành, thánh thiện hơn.

Đem Chúa đến cho người mình thăm viếng, không có nghĩa là mình nói thật nhiều thật hay về Chúa cho họ nghe. Đức Maria có nói gì về Chúa với bà Êlisabeth đâu! Chúa là tình thương, ta chỉ mang Chúa đến cho tha nhân, khi chính ta thật sự yêu thương họ bằng một tình yêu chân thực. Đến với nhau bằng tình thương, bằng niềm vui là sự gặp gỡ có Chúa hiện diện rồi. Khi người ta mang hận thù oán ghét, ý nghĩ đen tối đến với nhau thì nảy sinh bất hoà chiến tranh và đau khổ. Ta chỉ mang Chúa đến cho tha nhân khi ta đến với ý muốn làm hiện thân của Chúa đối với họ, và coi họ cũng là hiện thân của Chúa đối với mình.

Thiên Chúa yêu thương nhân loại nên đã ban tặng Con yêu dấu là Đức Giêsu. Người đến với trần gian trong lịch sử, cách đây hơn 2000 năm. Người đem ơn cứu độ và đem hạnh phúc đến cho mọi người, cho từng người. Khi còn tại thế, Đức Giêsu đã đến thăm nhiều người, nhiều gia đình. Người quan tâm chăm sóc chữa lành những bệnh nhân. Người giảng dạy và ân cần với những người nghèo. Người cải hóa nhiều tội nhân. Người biểu lộ tình yêu thương cho mọi người.Đức Giêsu muốn chúng ta tiếp nối công việc của Người.

Đức Maria viếng thăm, phục vụ và đem Chúa đến với gia đình bà Êlisabeth. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp và là mẫu gương cho mọi tín hữu noi theo Mẹ. Dành thời giờ quý báu để thăm nhau. Chia sẻ tình thương và đem niềm vui có Chúa cho tha nhân luôn là sứ vụ của con cái Chúa.

Lạy Mẹ Maria, xin giúp chúng con noi gương Mẹ, biết quan tâm đến niềm vui, nổi khổ, và nhu cầu của từng người sống chung quanh chúng con. Xin giúp chúng con biết hy sinh thời giờ cho dù rất quí báu để năng đến gặp gỡ, thăm viếng nhau, hầu nhờ đó thông cảm được những nỗi vui buồn và nhu cầu của anh chị em. Xin giúp chúng con biết sẵn sàng chia vui sẻ buồn và tìm mọi cách để giúp đỡ những nhu cầu chính đáng của họ.

Hành Hương chính là đi theo Đức Giêsu đức tin

Vượt trên những chính xác của dấu tích lịch sử, Hành hương tự nó mang ý nghĩa thiêng liêng : hành trình tìm lại cội nguồn của niềm tin. Đối tượng của hành hương là chính Chúa, cảm nghiệm một cách sâu sa rằng Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban chính Con Một mình (Ga 3,16). Đấng Vô cùng đã đi vào thời gian, tự giới hạn mình trong không gian của một tổ quốc còn lắm nhiễu nhương thăng trầm, và nhận mình vào dòng máu Do thái … lắm lúc còn thấy khó ưa, cùng sống và làm việc, chia sẻ với họ hệ lụy của kiếp người trong một nền văn hóa nhất định .

Như thế, Hành hương trước tiên là một cuộc gặp gỡ.

Đức Kitô của niềm tin như trở thành một con người cụ thể trước mắt ta. Ngài như “hiện thân” trong dáng vẻ, cách đi đứng, ăn nói của đồng bào Ngài hôm nay. Ngài cũng đang chịu cái nóng gay gắt hoặc cái lạnh thấu da mà mình đang cảm nghiệm lúc này, đang bôn ba trên những con đường, những triền dốc, bên ngọn núi mà ta đang leo, hay thênh thang trên những đường làng bạt ngàn lúa chín vàng, băng qua những vườn ôliu đầy bông trắng xóa, đứng đâu đó trên biển hồ mênh mênh gợi hứng cho những bài giảng đầy chất dân dã và hình tượng. Người cũng có thể cũng đã dẫm lên những bụi cây ngọn cỏ, những góc đá mà ta đang đi, cũng đang ngắm nhìn những bông hoa dại tuyệt sắc mà ta gặp bên đường. Đúng là ta như đang gặp một Đức Kitô trong chính bản thân mình . Cuộc gặp gỡ mới cụ thể làm sao !

Ngoài ra, Hành hương còn là một hành trình mở ra thế giới.

Những ngày tại Israel, đã ghi lại cho khách hành hương biết bao hình ảnh lạ mắt : những hàng rào kẽm gai, những bức tường bêtông cao ngất chạy dài ngăn cách phần đất Palestine, những người lính nam nữ đa phần còn rất trẻ với vũ khí trên tay, balô nặng trĩu trên vai, đang hành quân hoặc có mặt hầu như khắp nơi trên đất nước … làm ta nhớ lại lời Đức Thánh giáo hoàng Gioan Phaolô 2 “thế giới này không cần những hàng rào ngăn cách mà là những nhịp cầu”. Những hình ảnh ấy mời gọi ta phải là những nhịp cầu cảm thông chia sẻ, những nhịp cầu đong đầy tình yêu.

Những ngày tại Israel, nhất là tại Giêrusalem-trái-tim-thế-giới, biết bao hình bóng ngang qua cuộc đời và ghi đậm dấu ấn khó có thể phai nhòa. Đó là những em bé hồn nhiên vô cùng xinh xắn, những “ông biệt phái … ra rước mừng hát” đạo mạo, những người ăn xin có bài bản với micrô và dàn nhạc, các cô thiếu nữ vừa có vẻ ”kín cổng cao tường” vừa nghịch ngợm như “thứ ba học trò” và vô vàn “muôn dân muôn nước” đủ màu da sắc áo … nhất là những ông cha với phu nhân đi kèm … mà mãi vẫn không sao quen mắt ! nhưng tôi biết đó là anh em tôi, họ mời gọi tôi yêu mến họ trong tình hiệp thông liên đới.

Những ngày tại Israel, tôi cảm nhận thế nào là chia rẽ ngay cả trong niềm tin và những nơi thánh thiêng. Điều ấy có thể làm ta ngao ngán một chút, nhưng lại khiến ta hiểu rõ hơn thân phận mỏng dòn yếu đuối của con người, và mời gọi ta khẩn thiết hơn phải kiến tạo hòa bình, niềm cảm thông, nhất là sự hiệp nhất với Chúa, với người khác và với thế giới.
(Phần cuối)
Jos Nguyen
Author avatar
Tác giả
Biên tập viên

Nhà báo chuyên mảng tin tức quốc tế và phân tích chính trị. Nhiều năm kinh nghiệm đưa tin về các sự kiện lớn trên thế giới.

Thế giới Chính trị Phân tích
Bài viết
5+
Năm kinh nghiệm